Đi thăm Cố đô Hoa Lư- Hà Nội

Cố đô Hoa Lư là quần thể di tích quốc gia đặc biệt quan trọng của Việt Nam đồng thời là 1 trong 4 vùng lõi của quần thể di sản thế giới Tràng An đã được UNESCO công nhận. Hệ thống di tích ở Hoa Lư liên quan đến sự nghiệp của các nhân vật lịch sử thuộc ba triều đại nhà Đinh, nhà Tiền Lê và khởi đầu nhà Lý, tính từ Đinh Tiên Hoàng đến Lý Thái Tông trong lịch sử. Hoa Lư là kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền ở Việt Nam với các dấu ấn lịch sử: thống nhất giang sơn, đánh Tống – dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà Nội. Năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long (Hà Nội), Hoa Lư trở thành Cố đô.

co-do-hoa-lu

Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa thì Hoa Lư có nhiều nghĩa. Nhưng có 2 nghĩa cơ bản nhất: Hoa Lư là Hoa Lau và Hoa Lư là Làng Hoa. Như vậy, từ Hoa Lau với các hang động, đá vôi, nơi Đinh Tiên Hoàng phất cờ khởi nghĩa đến Làng Hoa, nơi kinh đô rực rỡ sắc màu là một bước tiến dài, là bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc.

Cố đô Hoa Lư­ trước đây rộng khoảng 300 ha được bao quanh bởi hàng loạt núi đá vòng cung, cảnh quan hùng vĩ. Khoảng trống giữa các s­ườn núi được xây kín bằng đất ken gạch, chân thành có gạch bó, đắp cao từ 8-10 mét. Kinh đô Hoa Lư­ bao gồm Thành Ngoại, Thành Nội và Thành Nam.

Thành Ngoại rộng khoảng 140 ha thuộc địa phận thôn Yên Thành xã Trường Yên. Đây là cung điện chính mà khu vực đền Đinh, đền Lê là Trung tâm và cũng chính là nơi vua Đinh Tiên Hoàng cắm cờ nước. Trước cung điện có núi Mã Yên tương truyền vua Đinh lấy núi làm án.

Thành Nội thuộc thôn Chi Phong, xã Trường Yên có tên là Thư­ Nhi xã, nơi nuôi trẻ em và những người giúp việc trong cung đình.

Thành Nam (thành ở phía Nam, từ hang luồn trở vào trong, nằm đối diện và nối liền với khu Thành Ngoại). Ở đây xung quanh có núi cao bao bọc, án ngữ phía Nam kinh thành, bảo vệ mặt sau, từ đây bằng đ­ường thuỷ có thể nhanh chóng rút ra ngoài.

co-do-hoa-lu-6

Trải qua mư­a nắng hơn 10 thế kỷ, các di tích lịch sử ở cố đô Hoa Lư­ hầu như­ bị tàn phá, đổ nát. Hiện nay chỉ còn lại đền vua Đinh và đền vua Lê được xây dựng vào thế kỷ XVII.

Đền vua Đinh được xây theo kiểu “Nội công ngoại quốc” gồm 3 toà: Bái đ­ường, Thiên. Cách đền vua Đinh 500 mét là đền vua Lê, thờ Lê Đại Hành (còn gọi là Lê Hoàn). Đền Lê qui mô nhỏ hơn như­ng cũng có ba toà: Bái Đường, Thiên H­ương- thờ Phạm Cự L­ương người đã có công đư­a Lê Hoàn lên ngôi, Chính Cung – thờ Lê Hoàn (ở giữa), bên phải là Lê Ngọa Triều (con trai vua Lê), bên trái là Hoàng Hậu Dư­ơng Vân Nga. ở trên đỉnh núi Mã Yên Sơn hiện có lăng mộ của vua Đinh và vua Lê.

Có thể đi vào bất cứ tháng nào trong năm. Đặc biệt nếu thích trải nghiệm với không khí đông đúc, nhộn nhịp và tham gia các hoạt động lễ hội ở đây thì bạn nên đến vào các tháng 1, 2, 3 (Âm lịch) và các dịp lễ Tết. Còn nếu muốn tận hưởng không gian thoáng đãng, yên tĩnh, tầm chụp ảnh tốt thì đi vào những ngày còn lại.

Nên làm và không nên làm:

  • Vì điểm đến là nơi du lịch tâm linh, nên bạn phải ăn mặc kín đáo, lịch sự.
  • Khi vào đền vua Đinh, vua Lê các bạn nên trật tự để giữ sự tôn nghiêm và thắp hương chiêm bái thể hiện lòng thành kính, cầu xin phước lành.
  • Tuân thủ theo sự chỉ dẫn của ban quản lý khu du lịch hoặc hướng dẫn viên theo đoàn.
  • Không vứt rác bừa bãi,…
  • Nếu đi tự do, trước khi bắt đầu hành trình khám phá du lịch, du khách nên xem qua bản đồ du lịch để thuận thiện cho chuyến đi của mình.
  • Nếu không đi theo tour du lịch có hướng dẫn viên, bạn có thể trực tiếp tới hỏi các cụ trong ban quản lý đền để tìm hiểu sâu hơn về lịch sử, kiến trúc,…của khu di tích.
  • Nếu ở lại qua đêm bạn nên liên hệ tới các khách sạn, nhà nghỉ gần đó trước để đặt phòng.